Hiện tượng đề kháng kháng sinh là gì ?

Hiện tượng đề kháng kháng sinh là gì, cơ chế hoạt động ra sao ? Vi khuẩn "tự vệ" bằng cách nào?

Định nghĩa về kháng sinh là để điều trị và phòng ngừa các bệnh nhiễm trùng. Khi vi khuẩn bị kháng sinh tiêu diệt hay kìm hãm được gọi là vi khuẩn nhạy cảm với kháng sinh, còn ngược lại là hiện tượng đề kháng kháng sinh.

Qua việc khảo sát ở những nước phát triển như: Mỹ, Hà Lan, tỉ lệ sử dụng kháng sinh không hợp lý là khá cao, vào khoảng 25 - 50%. Những nước đang phát triển, tỉ lệ sử dụng kháng sinh không phù hợp còn cao hơn, ví dụ tỉ lệ sử dụng kháng sinh bừa bãi gây kháng thuốc ở Nigeria lên đến 88%, tại Indonesia là 79%. Theo Bộ Y tế Việt Nam thì đối với vi khuẩn A.baumani tỉ lệ kháng carbapenem là 79%. Còn vi khuẩn Klebsiella, E.coli tỉ lệ kháng với ceftazidime lần lượt là 64,3% và 58,4%. Chính bởi vậy mà những người Dược sĩ tốt nghiệp Đại học, cao đẳng Dược cần nâng cao trình độ để có thể giải đáp tốt nhất cho những người muốn mua thuốc. Caodangduochanoi.edu.vn tuyển sinh Y Dượcliên thông cao đẳng Dược Hà Nội

Việc này đã gây ra hậu quả nghiêm trọng khiến vi khuẩn gây bệnh vẫn tồn tại và phát triển, ngay cả khi kháng sinh được dùng với liều rất cao so với liều điều trị thông thường. 

 

Đề kháng kháng sinh có 2 loại :

Đề kháng tự nhiên:  là thuộc tính di truyền của vi khuẩn. Những vi khuẩn của một chủng nào đó đều đề kháng với một hay một vài loại kháng sinh nhất định, do đặc điểm cấu tạo hay do khả năng biến dưỡng của nó. Chẳng hạn khuẩn Streptococcus đề kháng tự nhiên với phân nhóm kháng sinh Aminoglycosid do thành của vi khuẩn này không cho kháng sinh đi qua.

Đề kháng tiếp nhận:  vi khuẩn gây bệnh thường sẽ nhạy cảm với kháng sinh, nhưng bởi lý do nào đó như tia xạ hóa chất, gây đột biến nhiễm sắc thể làm vi khuẩn không còn nhạy cảm với kháng sinh đó nữa. Loại này ít xảy ra và nó mang tính tự phát. Hay do vi khuẩn tiếp nhận gen đề kháng kháng sinh từ bên ngoài bởi thể thực khuẩn (phage) hoặc do sự tiếp xúc giữa các vi khuẩn với nhau.

Để thực hiện được vai trò khống chế vi khuẩn thì kháng sinh cần phải tìm mọi cách gắn dính vào vi khuẩn qua một điểm gắn đặc hiệu gọi là thụ thể, để tạo thành liên kết vi khuẩn - kháng sinh, sau đó luồn lách để lọt qua hàng phòng vệ vững chắc thành tế bào vi khuẩn, đặc biệt là kháng sinh đó phải không bị phân hủy bởi các men do vi khuẩn tiết ra hay do các phản ứng sinh hóa từ chính cơ thể của người dùng thuốc.

Vi khuẩn có những cách tự vệ nào để tồn tại ?

- Thông thường vi khuẩn sẽ làm mất hoạt tính hay phá vỡ cấu trúc của kháng sinh. Cụ thể qua ví dụ sau: đối với kháng sinh có vòng bêta-lactam, vi khuẩn tiết ra men bêta-lactamase phá vỡ vòng này làm kháng sinh không còn tác dụng nữa. Để khắc phục thì các hãng sản xuất dược phẩm đã phối hợp một kháng sinh có vòng này với một chất có tác dụng ức chế men bêta-lactamase, chẳng hạn như amoxicillin với axít clavulanic(Augmentin) hay ampicillin cùng sulbactam (Unasyn).

- Cách thứ 2 khiến kháng sinh bị vô hiệu hóa đó là bị thay đổi điểm gắn kết khiến kháng sinh không nhận diện được.

- Cách thứ 3 là khá sinh trở nên vô tác dụng khi thành tế bào bị giảm tính thấm, do vậy kháng sinh không thể lọt vào bên trong.

Vi khuẩn đề kháng với kháng sinh hiện nay ngày càng gia tăng do việc sử dụng kháng sinh một cách bừa bãi. Người bệnh chưa biết nguyên nhân gây bệnh là gì nhưng có thấy sốt, đau đầu, ho chảy mũi.. là sẽ dùng kháng sinh. Điều đó khiến vi khuẩn quen dần với kháng sinh. Hoặc còn do sự tiếp xúc giữa những người bị nhiễm trùng(nhiễm trùng chéo), kéo theo tình trạng là có những người bị đề kháng với những kháng sinh mình chưa dùng bao giờ, đây gọi là đề kháng chéo.

Biện pháp để giảm tình trạng đề kháng kháng sinh ngày một  tăng hiện nay người bệnh cần phải chú ý theo sự chỉ dẫn của thầy thuốc, không nên tự ý dùng các loại thuốc, đặc biệt là kháng sinh theo sự mách bảo của người khác.

BS. Ngô Văn Tuấn